Nghiên cứu mới gây tranh luận về giáo dục Phần Lan. Phần Lan cải chính thông tin trên báo Anh. Vì thế mà từ đó đến nay, các phương tiện truyền thông thế giới thường xuyên theo dõi và cập nhật thông tin về những thay đổi của giáo dục nước này. Song, điều đáng tiếc
Thứ nhất, về chương trình, nội dung giáo dục. Hệ thống giáo dục của Phần Lan hiện nay bao gồm các chương trình cho trẻ nhỏ dưới 2 tuổi và chương trình cho trẻ độ tuổi mầm non (từ 2 - 6 tuổi); chương trình giáo dục cơ bản toàn diện bắt buộc kéo dài chín năm (bắt
There is a great deal of confusion today as to woman's role both in the home and in the church. This uncertainty provides a good opportunity to study afresh what the Bible teaches on the subject.
Trường học Phần Lan - Tấm gương cho giáo dục thế giới. Đọc khoἀng: 6 phύt. Mọi nσi trong thành phố đều được xem là lớp học. Ở trường, học sinh cό thể học bằng cάch chσi game khi đang ngồi trên ghế lười hᾳt xốp. Cuối nᾰm 2017, nhà bάo John Kennedy cὐa tờ
CÔNG TY CỔ PHẦN GIÁO DỤC VIỆT NAM ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM, HƯỚNG DẪN VIÊN DU LỊCH, AN TOÀN LAO ĐỘNG, ĐẤU THẦU , KẾ TOÁN , VĂN THƯ LƯU TRỮ, XÂY DỰNG, CÁC LỚP NGHỀ . Công ty CP Giáo Dục Việt Nam (Viết tắt: GDVN) Số 0103005468 do Sở Kế Hoạch và Đầu Tư Thành phố
rWEeF9j. Du học Eurolink Không có bài tập về nhà, không có các kỳ thi, không chấm điểm học sinh từ lớp 1 đến lớp 3…chỉ là một trong số rất nhiều điều “kì quặc” của nền giáo dục số 1 thế giới này. Theo cuộc nghiên cứu kéo dài 3 năm của tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế, học sinh Phần Lan đạt tiêu chuẩn tri thức cao nhất trên thế giới. Các en đọc nhiều sách hơn một cách rõ rệt so với những học sinh những quốc gia khác, xếp hạng nhất về bộ môn khoa học, hạng năm về toán học. Khác với nhiều nước, giáo dục ở Phần Lan gồm 2 giai đoạn, tiểu học từ lớp 1 đến lớp 6 và trung học từ lớp 7 đến lớp 9. Lớp 10 được thành lập riêng cho những học sinh muốn cải thiện điểm số. Dưới đây là 7 nguyên tắc làm nên nền giáo dục phát triển rực rỡ ở Phần Lan. Phần Lan là một trong số những quốc gia có học sinh thể hiện tốt nhất trong các bài thi đánh giá năng lực Bình đẳng giữa các trường Tất cả các trường đều được tài trợ cơ sở vật chất và trang thiết bị như nhau. Hầu hết các trường công lập đều giảng dạy cùng một giáo trình. Ngoại trừ một số trường bán công lập dạy bằng tiếng Anh, tiếng Đức hoặc tiếng Pháp, còn lại người Phần Lan luôn muốn bảo tồn ngôn ngữ của đất nước mình. Họ dạy tiếng Thụy Điển dùng làm ngoại ngữ thứ hai hoặc tiếng Sami, một dân tộc thiểu số ở Phần Lan. Bình đẳng giữa các môn học không môn nào được ưu tiên hơn các môn khác. Bình đẳng giữa phụ huynh Giáo viên không được phép biết nghề nghiệp của phụ huynh học sinh. Bình đẳng giữa học sinh Học sinh không được chia thành lớp chọn hay lớp thường, cũng không chia theo khối. Không có học sinh ngoan hay học sinh cá biệt, tất cả đều phải trải qua những thách thức về thể chất và trí tuệ như nhau. Nguyên tắc cơ bản của một giáo viên là đối xử với học sinh với thái độ khách quan, công bằng. Học sinh được hoàn toàn miễn phí Không chỉ học phí, học sinh không phải chi trả cho những khoản sau đây Bữa trưa Các tour du lịch, tham quan bảo tàng, hoạt động ngoại khóa Xe buýt đưa đón nếu nhà cách trường hơn 2km Sách giáo khoa, tài liệu học tập, máy tính, máy tính bảng. Phụ huynh không được mua cho con dụng cụ riêng Tiếp cận từng cá nhân Chương trình học được thiết kế để có thể tiếp cận với từng học sinh. Từ sách giáo khoa, sách thực hành, bài tập về nhà và bài giảng trên lớp đều được chọn lựa và phân loại sao cho phù hợp với từng học sinh. Ngoài ra, nhà trường có những lớp phụ đạo và gia sư kèm cho những học sinh cần cải thiện thành tích. Không có những kỳ thi Người Phần Lan có câu nói “Nếu phải chọn lựa giữa chuẩn bị hành trang cho cuộc sống hay cho những kỳ thi, tôi chọn điều thứ nhất”. Đó là lý do không có kỳ thi nào trong những trường học ở Phần Lan. Giáo viên sẽ tự quyết định thời điểm tiến hành các bài kiểm tra. Chỉ có một kỳ thi duy nhất là bài thi viết để xét tiêu chuẩn tốt nghiệp trung học. Không có một lớp ôn luyện nào trước kỳ thi. Trường học là nơi đào tạo những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống. Sau khi tốt nghiệp, trẻ em Phần Lan sẽ biết cách trả tiền thuế, lập trang web quảng cáo tính phần trăm chiết khấu hoặc vẽ bản đồ. Tin tưởng Mọi mối quan hệ trong trường học đều được xây dựng trên cơ sở niềm tin. Giáo viên không kiểm tra đột xuất cũng không áp đặt luật lệ cho học sinh. Hệ thống giáo dục chỉ đưa ra những đề xuất chung và giáo viên sẽ chọn áp dụng một trong số đó. Học sinh được quyền tự do làm việc mình thích trong yên lặng nếu đã xong bài tập hoặc cảm thấy bài giảng là vô bổ. Họ quan điểm rằng học sinh luôn tự biết điều gì là tốt nhất cho mình. Sự tự nguyện trong nền giáo dục Phần Lan Không thể tiếp thu kiến thức một cách ép buộc. Mọi giáo viên sẽ cố gắng khuyến khích học sinh học tập, nhưng nếu học sinh đó không muốn học hoặc không có khả năng học, họ muốn tập trung tìm kiếm một công việc thực tế hơn, giáo viên sẽ không vì thế mà liên tục cho học sinh đó điểm thấp. Việc học lại một năm cũng không phải điều đáng xấu hổ nếu nó cần thiết cho tương lai. Giáo viên không dạy quá nhiều kiến thức mà chú trọng tính độc lập Giáo viên không dạy học sinh quá nhiều kiến thức mà dạy phương pháp ghi nhớ cũng như cách tự mình suy nghĩ, phân tích, tìm kiếm thông tin từ những nguồn bên ngoài lớp học, đặc biệt là internet. Ngoài 7 nguyên tắc trên, giáo dục Phần Lan không chấm điểm học sinh từ lớp 1 đến lớp 3. Các trường đều có một hệ thống bảng điện từ gọi là Wilma, giúp giáo viên, viên chức, bác sĩ, nhà tâm lý học có thể phản hồi về học sinh và liên lạc với phụ huynh. Không có học sinh nào sợ nhận điểm xấu ở Phần Lan. Lớp học là nơi khuyến khích trẻ, không phải nơi răn đe trẻ. Tiền lương và danh tiếng của giáo viên cũng không phụ thuộc vào thành tích của học sinh. Khuôn viên nhà trường không có rào chắn. Học sinh được tự do ngồi trên sàn hoặc thảm cỏ, cũng không có quy định nào về đồng phục. Khi thời tiết đẹp, các lớp học sẽ diễn ra ngoài trời. Học sinh trung học được phép ra khỏi trường trong giờ nghỉ trưa. Hầu như không có bài tập về nhà, vì thế trẻ em được tận hưởng thời gian vui chơi giải trí sau khi kết thúc giờ học. Giáo viên cũng khuyến khích các bậc phụ huynh không nên kèm con học, thay vào đó nên đưa bé đi tham quan triển lãm, đi dạo hoặc đi bơi. Người Phần Lan không cho rằng hệ thống giáo dục của mình là hoàn hảo, vì thế họ không ngừng nghiên cứu và cải thiện cho phù hợp với những thay đổi của xã hội. Người Phần Lan làm những gì họ cho là tốt nhất cho con cái mình. Trẻ em không ghét trường học, không bị áp lực về điểm số hay thành tích. Các em giành nhiều thời gian tận hưởng cuộc sống ngay cả trong việc học tập. Một số thông tin thú vị khác trong nền giáo dục Phần Lan Khuôn viên trường không có rào chắn hay bảo vệ Trong lớp học, trẻ được phép ngồi trên sàn nhà hoặc thảm Không có đồng phục trường và bất cứ khuyến nghị nào về cách ăn mặc. Nhưng học sinh phải mang theo 2 đôi giày, đặc biệt là vào mùa đông. Khi trời ấm áp, các lớp học thường được dạy ở ngoài trời. Học sinh nhỏ hơn được cho ra ngoài vào giờ nghỉ giải lao. Hầu như không có bài tập về nhà. Trẻ được tận hưởng thời gian rảnh rỗi. Không khuyến khích cha mẹ giúp trẻ làm bài tập về nhà giáo viên cho rằng gia đình nên tổ chức đi thăm bảo tàng, đi bộ hoặc đi bơi cùng nhau. Người Phần Lan không khẳng định rằng hệ thống giáo dục của mình là hoàn hảo. Nhưng họ không bao giờ ngừng điều chỉnh và cải thiện hệ thống này, không ngừng nghiên cứu để nó có thể tương thích được với những thay đổi mới nhất của xã hội và sự phát triển của khoa học Nguồn Du học Châu Âu
Giáo dục là một trong những nền tảng của phúc lợi xã hội Phần Lan cung cấp các cơ hội giáo dục bình đẳng cho tất cả mọi người. Giáo dục từ tiền tiểu học đến đại học được miễn học phí ở đất nước này. Chương trình giảng dạy cốt lõi cho bậc tiền tiểu học và giáo dục cơ bản được thông qua năm 2016 đề ra học sinh cần tập trung vào việc học tập chứ không phải định hướng. Giáo viên Phần Lan có trình độ học vấn cao và cam kết tận tâm với tiêu chính của chính sách giáo dục Phần Lan là cung cấp cho mọi công dân cơ hội được giáo dục bình đẳng. Kết cấu hệ thống giáo dục đã thể hiện rõ những nguyên tắc bình đẳng này. Hệ thống này có tính thẩm thấu cao, nghĩa là không có ngõ cụt ngăn cản sự phát triển lên các cấp học cao tâm trong giáo dục là học tập hơn là kiểm tra. Không có bài kiểm tra quốc gia cho học sinh ở các khối lớp dưới trung học phổ thông. Thay vào đó, giáo viên có trách nhiệm đánh giá học sinh theo từng môn học tương ứng với các tiêu chí trong chương trình giảng thi quốc gia duy nhất là kỳ thi tuyển sinh được tổ chức vào cuối năm trung học phổ thông. Các trường đại học sẽ nhận sinh viên dựa trên kết quả bài kiểm tra này kết hợp với bài thi đầu thống giáo dục Phần Lan bao gồm+ Giáo dục và chăm sóc trẻ nhỏ được cung cấp cho trẻ trước khi bắt đầu giáo dục bắt buộc+ Giáo dục tiền tiểu học được cung cấp cho trẻ em trong năm trước khi bắt đầu giáo dục bắt buộc+ Giáo dục cơ bản chín năm trường học toàn diện là giáo dục bắt buộc+ Giáo dục trung học phổ thông là giáo dục trung học phổ thông hoặc giáo dục - đào tạo nghề+ Giáo dục đại học được cung cấp bởi các trường đại học và đại học khoa học ứng dụng.+ Hơn nữa, giáo dục người lớn hơn tuổi học cơ bản luôn có sẵn ở tất cả các thống giáo dục Phần LanGiáo dục và chăm sóc trẻ nhỏ trước khi giáo dục bắt buộc bắt đầuGiáo dục nhà trẻ GDNT kết hợp giáo dục, giảng dạy và chăm sóc theo cách có hệ thống và định hướng mục tiêu. Mục tiêu của GDNT là thúc đẩy trẻ em phát triển, sức khỏe và phúc lợi cũng như cải thiện phản xạ trẻ em cho việc học được hoàn quyền địa phương chịu trách nhiệm cung cấp GDNT cho trẻ dưới tuổi đi học và phụ huynh cần trả một khoản học phí nhỏ. Lệ phí được xác định dựa trên thu nhập, quy mô gia đình và thời lượng đứa trẻ ở GDNT. Hướng dẫn chương trình giảng dạy quốc gia về giáo dục và chăm sóc trẻ nhỏ ở Phần Lan được phê duyệt bởi Cơ quan Giáo dục Quốc gia Phần dục tiền tiểu học cho trẻ em trong năm trước khi bắt đầu giáo dục bắt buộcMục tiêu của Giáo dục mầm non GDMN là cải thiện cơ hội học tập và phát triển của trẻ. GDMN đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị chuyển tiếp từ GDMN lên Giáo dục cơ bản. Kể từ năm 2015, việc tham gia vào GDMN là bắt buộc đối với tất cả trẻ em ở Phần Lan và được cung cấp miễn phí. Người có quyền nuôi con phải đảm bảo rằng trẻ tham gia vào GDMN hoặc các hoạt động tương ứng khác đáp ứng được các mục tiêu đặt ra cho trình giảng dạy trọng tâm của GDMN được Cơ quan Giáo dục Quốc gia Phần Lan phê duyệt, hướng dẫn lập kế hoạch nội dung và các nền tảng làm cơ sở để soạn thảo chương trình giảng dạy tại địa dục cơ bản là giáo dục bắt buộc được xem như trường học toàn diệnGiáo dục cơ bản gồm chín năm trường học toàn diện là bắt buộc đối với tất cả trẻ em từ 7 đến 16 tuổi. Giáo dục bắt buộc bắt đầu vào năm trẻ lên 7 và kết thúc khi giáo trình cơ bản hoàn thành hoặc sau 10 năm kể từ khi trẻ bắt đầu chương trình giáo dục bắt buộc. Mọi trẻ em thường trú tại Phần Lan phải tham gia giáo dục cơ bản và được miễn học phí bao gồm cả bữa ăn miễn phí tại dục phổ thông và dạy nghề phổ thông thay thế sau giáo dục cơ bảnSau khi hoàn thành giáo dục cơ bản chín năm bắt buộc, những người trẻ tuổi có thể tiếp tục lựa chọn theo 1 trong 2 hướng Giáo dục trung học phổ thông GD THPT hoặc Giáo dục - đào tạo THPT lukio trong tiếng Phần Lan cung cấp giáo dục phổ thông và học sinh chưa đủ trình độ cho một nghề nghiệp cụ thể nào. Kết thúc chương trình GD THPT, học sinh dự kỳ thi tuyển sinh quốc gia. Những người vượt qua kỳ thi tuyển sinh đủ điều kiện để đăng ký học tiếp tại các trường đại học, đại học khoa học ứng dụng và các cơ sở dạy nghề. GD THPT được thiết kế thường phải mất 3 năm để hoàn người có trình độ trung cấp nghề hoàn thành các kỹ năng nghề cơ bản trong một lĩnh vực cụ thể và năng lực chuyên môn cần thiết trong cuộc sống làm việc thực tế. Phạm vi của trình độ chuyên môn là 120 tín chỉ và phải mất 3 năm học tập toàn thời gian. Sau khi hoàn thành trình độ trung cấp nghề, học sinh có thể nâng lên trình độ THPT nghề, trình độ chuyên môn cao và trình độ nghề chuyên nghiệp. Trình độ chuyên môn cao và nghề chuyên nghiệp khi hoàn thành sẽ được cấp bằng dựa trên năng lực. Các cơ sở dạy nghề hướng dẫn trên cơ sở thực tế và được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Đào tạo cụ thể tại nơi làm việc là một phần thiết yếu của quá trình học. Sau khi hoàn thành trình độ nghề, học sinh có thể tiếp tục học lên giáo dục đại thống giáo dục đại học Phần Lan bao gồm các trường đại học và đại học khoa học ứng dụngNhiệm vụ của các trường đại học là tiến hành nghiên cứu khoa học và cung cấp giáo dục dựa trên lĩnh vực khoa học đó. Các trường đại học khoa học ứng dụng UAS cung cấp giáo dục thực tế hơn nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao trường đại học cung cấp giáo dục khoa học và nghệ thuật cao hơn, cấp bằng lần lượt theo trình độ cử nhân và thạc sĩ và tiến sĩ. Các trường đại học khoa học ứng dụng UAS cấp bằng cử nhân và thạc sĩ theo hệ khoa học ứng gian hoàn thành bằng cử nhân tại một trường đại học là 3 năm và đối với bằng thạc sĩ là tối thiểu 2 năm. Việc hoàn thành bằng cấp đại học khoa học ứng dụng UAS thường mất từ 3,5 đến 4,5 dục và đào tạo người lớn trên tinh thần học tập suốt đờiGiáo dục và đào tạo người lớn bao gồm cấp chứng chỉ, cấp bằng, đào tạo chuẩn bị cho bằng cấp chuyên môn, đào tạo học nghề, tiếp tục giáo dục cập nhật và mở rộng các kỹ năng chuyên môn, nghiên cứu các chủ đề liên quan đến kỹ năng công dân, kỹ năng sống và xã hội, nghiên cứu các nghề thủ công và các môn học khác nhau trên cơ sở giải TeirPhó Hiệu trưởng Trường ĐHKhoa học Ứng dụng CentriaHoài Thương dịch
Gần đây các chuyên gia giáo dục hàng đầu của thế giới đều ấn tượng mạnh bởi nền giáo dục Phần Lan. Học sinh Phần Lan luôn đứng đầu về khoa học và khả năng đọc viết, và thường dẫn đầu cuộc thi quốc tế PISA Chương trình đánh giá học sinh quốc tế – Programme for International Student Assessment. Điều kỳ lạ là Phần Lan không hề xem trọng các kỳ thi sát hạch, kể cả PISA, và cũng không có một chương trình hay trường lớp nào dạy học sinh thi PISA cả. Thậm chí chính những người Phần Lan cũng ngạc nhiên về việc học sinh của nước họ luôn đứng đầu trong các cuộc thi PISA, vì họ cũng không quan tâm đến xếp hạng hay đặt mục tiêu phải đạt thành tích gì từ cuộc thi này. Năng lực học tập của học sinh Phần Lan đã thu hút các chuyên gia giáo dục từ 65 quốc gia, kể cả nền giáo dục hàng đầu thế giới như Mỹ đến tìm hiểu khám phá nền giáo dục đất nước này, và phát hiện ra nhiều điểm thú vị đáng học hỏi. Năm 2011, các Giáo sư nghiên cứu và giáo dục trường Harvard của Mỹ đã cùng nhà làm phim nổi tiếng Robert Compton đã làm bộ phim The Finland Phenomenon Inside The World’s Most Surprising School System’ nghĩa là Hiện tượng Phần Lan Bên trong hệ thống trường học đáng ngạc nhiên nhất trên thế giới để tìm hiểu về nền giáo dục kinh ngạc của đất nước này. Trở về với thực trạng giáo dục của Việt Nam, một nền giáo dục mà nhiều người thừa nhận là đã tụt hậu hàng thập kỷ, thậm chí cả thế kỷ so với giáo dục thế giới. Chúng ta hãy thử làm một so sánh giữa giáo dục Phần Lan và Việt Nam, để xem giáo dục Việt Nam cần thay đổi hướng phát triển như thế nào để tốt hơn. GIÁO DỤC PHẦN LAN PL và GIÁO DỤC VIỆT NAM VN + PL Luật pháp Phần Lan quy định không được xếp hạng hoặc cho điểm để đánh giá các học sinh trước lớp 6 -VN Các lớp đều có kỳ thi cho điểm đánh giá + PL Phương châm của giáo dục Phần Lan là muốn nhà trường thành thiên đường của trẻ em Tại -VN Việt Nam, nhà trường là môi trường cạnh tranh và nhồi nhét kiến thức + PL Nền giáo dục công bằng, học sinh thành thị hay nông thôn đều cùng được hưởng giáo dục như nhau -VN Có sự chênh lệch lớn giữa thành thị và nông thôn, giữa trường chuyên lớp chọn. + PL Ngành giáo dục không đánh giá xếp hạng các trường. Không có điểm danh, không có trường chuyên lớp chọn. Giáo viên tự hào về ngôi trường mình đang giảng dạy, phụ huynh và học sinh tin tưởng ngôi trường vào giáo viên của mình. -VN Có trường chuyên lớp chọn khiến phụ huynh, học sinh có sự phân biệt và thiếu tin tưởng nếu con em mình không được học tại một trường điểm hoặc lớp điểm. Hệ quả là việc chạy trường dẫn đến tiêu cực trong giáo dục. + PL Giáo dục hoàn toàn miễn phí. -VN Học sinh phải đóng học phí. + PL Giáo viên từ bậc tiểu học tối thiểu phải có bằng thạc sỹ, được hưởng lương cao và được xã hội xem trọng. Tính chọn lọc giáo viên rất cao chưa tới 10% số người đăng ký được chọn -VN Chỉ có giáo viên bậc ĐH mới cần bằng thạc sỹ, thu nhập thấp. + PL Không có khái niệm học thêm . -VN Trước đây việc học thêm dẫn đến tệ nạn học thêm thì điểm cao, không học thêm thì không được điểm cao. Ngày nay đã cấm học thêm, nhưng do thu nhập giáo viên thấp nên vẫn phải dạy chui’. + PL Giáo viên soạn bài giảng phù hợp từng độ tuổi . -VN Bài giảng không phù hợp với từng độ tuổi, có những bài toán không hợp lý, người lớn cũng không giải được. + PL Giáo viên tự chọn đầu SGK, và chủ động soạn bài giảng, được phép áp dụng phương pháp giảng dạy riêng . -VN Không có sự chủ động, giáo án soạn theo SGK. + PL Giáo viên được tuyển chọn khắt khe từ đầu vào, xã hội tôn trọng giáo viên, vì thế ngành giáo dục cũng không cần kiểm tra phân loại, hay giám sát giáo viên. -VN Định kỳ kiểm tra phân loại giáo viên khiến phụ huynh không muốn con em mình học giáo viên yếu, học giáo viên yếu thì phụ huynh và học sinh không có niềm tin. + PL Mỗi giáo viên thường theo một lớp trong thời gian dài để giáo viên và học sinh thực sự gắn bó và hiểu nhau. Thầy cô cũng có thể biết điểm yếu, khó khăn riêng của từng học sinh để bù đắp kiến thức . -VN Không chú trọng vấn đề này, vì thế nên giáo viên không biết hết được điểm mạnh hay yếu của học sinh để phát huy hay bù đắp kiến thức. + PL Học sinh bắt đầu học tiểu học từ 7 tuổi . -VN Lớp 1 bắt đầu từ lúc 6 tuổi. Nhưng để cho con em có thể theo kịp với bạn bè và chương trình, phụ huynh đã phải cho con em mình đi học chữ từ trước khi vào lớp 1. + PL Học sinh trung học mỗi tối mất chưa tới 30 phút làm bài tập ở nhà. -VN Học sinh Việt Nam mất khá nhiều thời gian để làm bài tập và học thuộc lòng, thông thường mất cả buổi tối để làm bài tập ở nhà. + PL Tập trung cho học sinh yếu chứ không phải học sinh giỏi, học sinh giỏi cũng lo cho học sinh yếu, giúp chất lượng chung cả nền giáo dục cao, ươm trồng tinh thần hợp tác giúp đỡ nhau, vì thế mà học sinh thành những công dân có tính cộng đồng, sẵn lòng đỡ người khác, giúp văn hóa đạo đức của cả đất nước nâng cao. -VN Phân biệt học sinh giỏi yếu, học sinh yếu cảm thấy chán học, tự ti, bị nhồi nhét tư tưởng cạnh tranh từ nhỏ nên có khả năng sẽ thành công dân ít có tính cộng đồng. + PL Học sinh Phổ thông không có thi cử, chỉ có 1 kỳ thi duy nhất là thi vào ĐH. Mục đích của giáo dục là để truyền tải kiến thức chứ không phải dạy để thi cử, vì thế học sinh được tự do tìm tòi khám phá môn học mình yêu thích, không bị áp lực thi cử. -VN Chịu áp lực mạnh từ thi cử, học sinh học chủ yếu để thi tốt, điểm cao, chạy theo thành tích, không kích thích để phát triển tư duy tìm tòi sáng tạo, chương trình học thuộc lòng quá nặng khiến các em cũng không có thời gian để đầu tư phát triển khả năng sáng tạo. + PL Không nhất thiết chỉ học trong SGK, kiến thức ở ngay trong cuộc sống, học sinh có nhiều giờ học vui chơi ngoại khóa, lúc này giáo viên và học sinh tha hồ sáng tạo mà không theo giáo trình nào, học sinh thích thú tìm tòi khám phá, thu được nhiều kiến thức, giáo viên cũng nắm được điểm mạnh cần phát huy của học sinh. Giáo viên muốn học sinh tự tìm thông tin hơn là học trong SGK . -VN Kiến thức chỉ đơn điệu ở trong SGK. + PL Không khí học tập thích thú thoải mái không có áp lực, học sinh học vì thích thú nên hoàn toàn không cần điểm danh . -VN Nhiều học sinh không thích đi học nên điểm danh là việc nhà trường cảm thấy cần thiết. Một quốc gia không đặt ra các tiêu chí để đánh giá xếp hạng giáo viên và học sinh, không yêu cầu thầy trò phải đứng đầu, thế mà lại được cộng đồng OECD xếp hạng có nền giáo dục phổ thông tốt nhất. Khi biết tin này, chính những người Phần Lan rất ngạc nhiên. So sánh giữa một nền giáo dục hàng đầu thế giới và một nền giáo dục tụt hậu như Việt Nam có thể thấy khác biệt là quá xa. Nhưng đấy cũng là một cách tốt để các nhà hoạch định chính sách Giáo dục đưa ra một hướng đi đúng đắn cho giáo dục Việt Nam./. NguồnNgọn Hải Đăng/ĐKN
Phần Lan và Bắc Âu nói chung hay được nhắc đến như một hình mẫu hoàn hảo với quá nhiều ưu điểm trong mơ. Liệu điều đó có phải là sự thật hay chỉ là “cỏ bên kia đồi vẫn luôn xanh hơn”? Nơi hạnh phúc là thành công Trao đổi với nhiều nhà giáo dục Phần Lan, họ thường trích dẫn câu của Pasi Sahlberg, tác giả nổi tiếng của 2 quyển sách Bài Học Phần Lan - xuất thân vốn là một tiến sĩ kinh tế học “Thật khó để tách rời hệ thống giáo dục Phần Lan ra khỏi chính sách xã hội và môi trường Phần Lan”. Giáo dục Phần Lan phản ánh xã hội Phần Lan. Thực chất nếu sinh ra với quốc tịch Bắc Âu, bạn có thể tự do sống ở khắp thế giới mà vẫn nhận được trợ cấp của chính phủ. Vậy nên, những người sống tại Phần Lan và Bắc Âu nói chung là “những người ở lại”. Cảm giác kiểu như ở nhà ấy, khi bạn đã ở nhà thì bạn sẽ làm mọi thứ tốt nhất, thoải mái nhất. Tháng thủ đô Helsinki khai trương Oodi, là thư viện công cộng thứ 38 trong thành phố không tính thư viện của các trường học, bệnh viện, cơ quan nằm ở khu vực “kim cương” - bao quanh bởi Tòa nhà Nghị viện, Tòa nhà báo chí, Trung tâm Âm nhạc, Bảo tàng Nghệ thuật hiện đại và hướng ra Quảng trường Nhân dân. Bản thân Oodi cũng là một viên kim cương với tổng giá trị đầu tư lên đến 98 triệu euro và thiết kế kiến trúc đạt nhiều giải thưởng quốc tế. Thư viện này được ví như món quà Phần Lan dành tặng người dân nhân dịp 101 năm độc lập 1917-2018. Thư viện Oodi Người dân Phần Lan thật sự trân quý những món quà như vậy, việc học - đọc và sử dụng những không gian văn hóa được xem là nhu cầu sinh tồn thiết yếu. Helsinki chỉ có dân nhưng năm 2017 có đến gần 7 triệu lượt ghé thăm các thư viện, riêng thư viện Oodi dự kiến sẽ đón lượt ghé thăm mỗi ngày ước tính khoảng 2,5 triệu lượt ghé thăm năm 2018, nâng tổng lượt ghé thăm thư viện tại Helsinki lên đến hơn 9 triệu lượt trong năm 2018. Một thông số để so sánh năm 2017, Anh phải đóng cửa gần 500 thư viện vì có quá ít người lui tới. Nhìn rộng hơn, cả đất nước Phần Lan có 853 thư viện công cộng đón hơn 50 triệu lượt ghé thăm năm 2017. Tất cả nằm trong cam kết giáo dục của Chính phủ Phần Lan từ những năm 1800 khi chưa độc lập rằng “không có một đứa trẻ nào phải đi bộ quá 10 phút để tiếp cận giáo dục tốt”. Những ngôi làng dù nhỏ nhất ở mức 200 hộ dân cũng có trường học và thư viện riêng. Hệ thống giáo dục Phần Lan được hình thành trên cam kết và nền tảng như vậy. Tại Phần Lan, quyền được học và hạnh phúc cũng cơ bản và quan trọng như cơm ăn, áo mặc. “Phần Lan không thể không tạo nên một hệ thống giáo dục tốt, vì con người là tài nguyên quý giá nhất chúng tôi có”, trích lời chia sẻ một thành viên Ban Giám hiệu Đại học Turku. Toàn bộ hệ thống giáo dục đều tập trung vào học sinh làm trung tâm, phương pháp học tập có tính cá nhân hóa rất cao, kết hợp với việc hầu hết các trường tại Phần Lan đều hoạt động phi lợi nhuận nhận trợ cấp từ chính phủ, nên kết quả tạo ra là một hệ thống giáo dục rất đồng đều về chất lượng và phục vụ được nhiều nhóm học sinh khác nhau. Trong một báo cáo của Đại học Turku, khi đánh giá chất lượng giáo dục của một trường tại trung tâm Helsinki thủ đô và những trường ở vùng xa như cực Bắc hay gần biên giới Nga thì chất lượng đào tạo không lệch nhau quá 6%. Một kết quả như phép màu. Với đội ngũ giáo viên chất lượng và yêu nghề, kết hợp với nền giáo dục không áp lực thi cử nên cách Phần Lan cập nhật và thay đổi chính sách và chương trình giáo dục toàn quốc là theo phương pháp “từ dưới lên”. Nghĩa là Bộ Giáo dục Phần Lan sẽ kết hợp cùng Đại học Helsinki tổ chức các tọa đàm giáo dục để chọn ra những giáo viên có phương pháp giảng dạy hiệu quả nhất ở từng môn, sau đó mời họ cùng nghiên cứu để viết thành bộ quy chuẩn đào tạo phổ biến toàn quốc. Do bất kỳ quy chuẩn hay nội dung giáo dục nào tại Phần Lan đều đã được thực nghiệm trước, nên rất ít tình trạng không áp dụng được. Đồng thời, Ban Biên soạn nội dung cũng là những người đã trực tiếp đứng lớp nên họ có trách nhiệm liên tục hỗ trợ các giáo viên trên toàn quốc để triển khai, cũng như cập nhật chương trình liên tục. Chu kỳ cũ của Phần Lan là 7 năm một lần cho đổi mới quy chuẩn giáo dục giống như cập nhật sách giáo khoa tại Việt Nam và họ dự kiến rút ngắn còn 3 năm một lần. Mang được gì về Việt Nam? Đến đây ắt hẳn bạn sẽ nghĩ “thật khó để mang giáo dục Phần Lan về Việt Nam”. Đây là một nhận định đúng. Vì nền tảng sẵn có phúc lợi xã hội, chất lượng giáo viên, hệ thống giáo dục cộng với ưu thế về dân số thấp nên hệ thống giáo dục của Phần Lan rất đặc thù. Ngay cả những phương pháp học tập theo dự án project-based learning hay hiện tượng phenomenon-based learning với tính cá nhân hóa rất cao cũng khiến việc phát triển diện rộng đặc biệt cho nhóm học sinh có cách tiếp thu khác như ở châu Á cũng khó khăn hơn triển khai những chương trình chuẩn, đo lường bằng kiểm tra. Một điểm khó khăn khác là rất hiếm có quốc gia nào kể cả Anh, Mỹ có đội ngũ giáo viên chất lượng cùng hệ thống giáo dục hỗ trợ học sinh và giáo viên như Phần Lan. Đã có nhiều dự án luân chuyển giáo viên Phần Lan sang dạy tại Anh, Mỹ nhưng vẫn chưa đạt nhiều thành công. Người viết cũng có dịp trao đổi với nhiều đơn vị xuất khẩu giáo dục Phần Lan sang châu Mỹ Latinh. Họ đều loay hoay trước một đội ngũ giáo viên được đào tạo rất ít và chỉ có thu nhập tầm 300-400USD so với mức lương trung bình khoảng tại Phần Lan, chưa kể đến sỉ số lớp học thì đông gấp 5-8 lần so với Phần Lan. Hiện giáo dục Phần Lan mới có vài thành công trong xuất khẩu tại châu Âu nơi có hạ tầng xã hội khá tương đồng và Trung Quốc được định vị là giáo dục cho tầng lớp siêu giàu, với toàn bộ đội ngũ giáo viên và quản lý đều từ Phần Lan sang. Vì vậy, người viết không nghĩ giáo dục Phần Lan có thể xuất hiện tại Việt Nam với hình thái trọn vẹn trong thời gian gần trừ khi có những đối tác hay chính sách đặc biệt. Cá nhân người viết nghĩ rằng có 3 điểm các nhà quản lý và vận hành giáo dục cũng như phụ huynh có thể áp dụng ngay từ bài học Phần Lan. Trước hết, luôn lấy người học làm trung tâm - ưu tiên cao nhất cho việc kích thích trí tò mò và đam mê học hỏi. Trung bình một học sinh Phần Lan chỉ cần tốn 30 phút mỗi ngày để làm bài tập nhưng thời lượng tự nguyện học tập và tìm hiểu luôn cao hơn rất nhiều. Điểm khác biệt đó là điều học sinh muốn làm, chứ không phải bị ép làm. Bên cạnh đó, đầu tư vào đội ngũ giáo viên, trao cho họ công cụ, kiến thức, niềm tin và đặc biệt cần có phúc lợi tương xứng. Cuối cùng là học cách kiểm soát kỳ vọng của bản thân và đồng hành cùng con cái, đừng chỉ đánh giá qua điểm số. Điểm số là cách dễ nhất và lười biếng nhất mà người lớn có thể dùng để đánh giá con trẻ. Nếu bạn muốn có những đứa trẻ đặc biệt, đừng cư xử với chúng một cách tầm thường. * Chương trình Vietnam Market Access Program do Chính phủ Phần Lan tổ chức
→Học cách giáo dục của người Sing →Khoảng cách giàu nghèo "1 ngày và 10 năm" Nhiều người đã quen thuộc với khuôn mẫu của sự ghi nhớ, kiểu học thuộc lòng và cách làm việc chăm chỉ của các quốc gia Đông Á. Nhiều quốc gia trong số này, như Trung Quốc, Singapore và Nhật Bản thường xếp hạng ở vị trí số một trong cả toán và khoa học. Một số chuyên gia hướng tới mô hình này như một điều mà người Mỹ mong muốn trở thành. Làm việc nhiều hơn! Học tập chăm chỉ hơn! Sống ít hơn. Thực tế và số liệu không nói dối, những quốc gia này hoạt động tốt hơn Mỹ nhưng vẫn có thể có cách tốt hơn và lành mạnh hơn để giải quyết vấn đề này. Phần Lan là câu trả lời, một đất nước phong phú về cải cách trí tuệ và giáo dục trong nhiều năm qua đã khởi xướng một số thay đổi mới lạ và đơn giản giúp họ hoàn toàn cách mạng hóa hệ thống giáo dục. Họ vượt trội hơn Hoa Kỳ và đang bắt kịp các quốc gia Đông Á. Nhưng cách họ làm như thế nào?. Dưới đây là 5 lý do tại sao hệ thống giáo dục của Phần Lan vượt trội so với Mỹ và thế giới. 1. Phần Lan không có các bài kiểm tra tiêu chuẩn hóa Thông thường, các bài kiểm tra, dù là trắc nghiệm hay tự luận, là cách thức chúng ta đánh giá mức độ hiểu biết của người kiểm tra về một môn học hoặc chủ đề nào đó. Cách làm này kéo theo việc học sinh sẽ học cách nhồi nhét để vượt qua bài kiểm tra và giáo viên sẽ giảng dạy với mục đích duy nhất là học sinh đậu kỳ thi. Trong mối tương quan này, việc học tập đã bị ném ra ngoài. Phần Lan không có các bài kiểm tra tiêu chuẩn hóa. Ngoại lệ duy nhất của họ là một kỳ thi được gọi là kỳ thi thi tuyển quốc gia. Đây là một kỳ thi tự nguyện cho học sinh vào cuối năm học phổ thông. Tất cả trẻ em trên khắp Phần Lan được phân loại trên cơ sở cá nhân và hệ thống chấm điểm bởi giáo viên của họ. Việc theo dõi tổng thể được thực hiện bởi Bộ Giáo dục bằng cách lấy mẫu các nhóm trên các phạm vi khác nhau của các trường. 2. Tiêu chuẩn đặt ra cho các giáo viên rất cao Có rất nhiều than phiền về các giáo viên và đôi khi chúng đúng. Nhưng ở Phần Lan, tiêu chuẩn đặt ra cho các giáo viên rất cao. Và thường thì không có lý do để có một hệ thống “phân loại” nghiêm ngặt cho giáo viên. Pasi Sahlberg, Giám đốc của Bộ Giáo dục Phần Lan, kiêm tác giả cuốn sách “Bài học Phần Lan Thế giới có thể học hỏi gì từ sự thay đổi giáo dục ở Phần Lan?” từng nói “Không có từ giải trình ở Phần Lan… Giải trình là điều còn lại sau khi đã trừ đi trách nhiệm.” Tại Phần Lan, tất cả giáo viên được yêu cầu phải có bằng thạc sĩ trước khi vào nghề. Chương trình đào tạo là những trường chuyên nghiệp nghiêm ngặt và có chọn lọc nhất trong cả nước. Nếu giáo viên không làm việc tốt thì đó là trách nhiệm của riêng hiệu trưởng phải làm điều gì đó để điều chỉnh. Mối quan hệ động giữa thầy và trò trong giáo dục, trong đó vốn dĩ người giáo viên phải đạt đến trình độ thạc sĩ để hành nghề, không thể đơn giản hóa thành những bài kiểm tra tĩnh được tiêu chuẩn hóa. Việc giáo dục cần phải được thực hiện trên cơ sở cá nhân. 4. Đoàn kết, hợp tác, không cạnh tranh Trong khi hầu hết người Mỹ và các nước khác nhìn hệ thống giáo dục là một trong những cuộc thi lớn theo chủ thuyết Darwin thì người Phần Lan nhìn khác đi. Sahlberg trích dẫn một dòng từ một nhà văn tên Samuli Paronen “Người chiến thắng thực sự không cạnh tranh.” Trớ trêu thay, chính thái độ không tranh lại đặt Phần Lan lên tốp đầu thế giới. Trong hệ thống giáo dục của Phần Lan không có danh sách các trường điểm hoặc giáo viên giỏi. Nơi đó không phải là môi trường cạnh tranh, thay vào đó, sự hợp tác là tiêu chuẩn. Hệ thống giáo dục Phần Lan có 9 năm học bắt buộc. Sau 9 năm này, hoặc khi học sinh 16 tuổi, việc học tập như thế nào là quyền tùy chọn của mỗi học sinh. 4. Chỉ cần điều cơ bản Nhiều hệ thống trường học rất quan tâm đến việc tăng điểm kiểm tra và hiểu biết về môn toán và khoa học. Họ có xu hướng quên đi những gì tạo thành một môi trường học tập và sinh ra những học sinh hạnh phúc, hài hòa, khỏe mạnh. Nhiều năm trước, hệ thống trường học của Phần Lan cần một số cải cách nghiêm túc. Quốc gia này tập trung vào việc quay lại những điều cơ bản. Họ tìm cách làm cho môi trường học đường trở thành một nơi công bằng hơn. 5. Đi học trễ hơn Ở đây người Phần Lan lại tiếp tục thay đổi với các chi tiết rất nhỏ. Học sinh bắt đầu đi học khi chúng được bảy tuổi. Đây là cách giúp trẻ tự do phát triển trong những năm thơ ấu, không bị ràng buộc vào giáo dục bắt buộc. Điều này giúp trẻ em thật sự là trẻ em và tuổi thơ được giữ lại. Hệ thống giáo dục Phần Lan có 9 năm học bắt buộc. Sau 9 năm này, hoặc khi học sinh 16 tuổi, việc học tập như thế nào là quyền tùy chọn của mỗi học sinh. Chỉ cần nhìn từ một quan điểm tâm lý, đây là một lý tưởng giải phóng. Tuy vậy cũng có giai thoại cho rằng nhiều học sinh thực sự cảm thấy như họ đang bị mắc kẹt trong một nhà tù. Phần Lan làm giảm bớt lý tưởng cưỡng bức này và thay vào đó là lựa chọn để chuẩn bị cho con cái của họ cho thế giới thực. Nguồn Weforum Cập nhật tin Đầu Tư, Bất Động Sản, tin nhanh kinh tế chứng khoán, kiến thức Doanh Nghiệp tại Fanpage.
giáo dục phần lan